Horea logo
Trang chủ / Tin tức

Bàn về giọng nói Bình Định

Ngày đăng: 21-10-2016

Đất Bình Định chạy dài từ đèo Bình Đê (phía bắc) đến đèo Cù Mông (phía nam) đều có chung một giọng nói. Tuy nhiên nếu để ý, mà phải là người địa phương mới nhận biết được, giọng nói của người ở vùng Bắc Bình Định (từ Bồng Sơn trở ra) cứng hơn một tí vì hơi giống giọng Quảng Ngãi.

 

Bàn về giọng Bình định, thử xét qua các điểm về Thổ ngữ, Thổ âm, Lối nói Bình Định, Nguồn gốc giọng nói, Đặc điểm giọng nói và sau cùng là Tầm ảnh hưởng.

 

 

1. THỔ NGỮ

 

Ngày nay, nhờ phương tiện truyền thông tân tiến và giao thông tiện lợi, việc tiếp xúc giữa dân cư các vùng không còn bị cách trở, cô lập. Bởi thế, một số tiếng địa phương (phương ngữ) không còn tính cách riêng tư của một vùng, một số khác bị đào thải vì không còn thích hợp nữa. Tuy nhiên, với yếu tố phong thổ của mỗi vùng, vẫn còn một số thổ ngữ và thổ âm đặc trưng cho địa phương đó, đủ sức vượt mọi hoàn cảnh để tồn tại với thời gian.

 

Cũng như các tỉnh khác, Bình Định có nhiều thổ ngữ, cấu tạo bởi hai yếu tố: biến thể từ một tiếng đã có sẵn nhưng vẫn giữ nguyên ngữ nghĩa, hoặc từ ngữ không biến đổi nhưng hiểu theo một nghĩa khác với nghĩa chữ ban đầu. Dưới đây, chưa thể gọi là liệt kê đầy đủ số thổ ngữ của Bình Định, nhưng có đủ mặt các loại thổ ngữ vừa nêu trên.

 

 

1.1 THỔ NGỮ TIÊU BIỂU

 

1.1.1 Ảnh mơi : còn gọi là Đảnh mơi hay Thảnh mơi tức là sáng ngày mai, sáng mai. Thổ ngữ này rất phổ biến trong vùng, ca dao Bình Định có câu:

 

Ai dìa ai ở mặc ai,Áo già ở lại ảnh mơi mới dìa.

 

Mặc dù "ai" bắt vần với "mơi" không được chỉnh như "ai" và "mai", nhưng người Bình Định không quen gọi là "sáng mai".

 

1.1.2 Bãi tạt rảnh : dẹp đi cho rồi.

 

Thí dụ: Có chút việc mà làm không xong, bãi tạt rảnh

 

1.1.3 Báng họng : cổ họng

 

Thí dụ: Để cho tui nói cái đã, sao cứ chận ngang cái báng họng.

 

1.1.4 Beng : so sánh, bì. Bài chòi Bình Định có câu:

 

Con vợ tui tốt tợ tiên sa,Coi trong thiên hạ ai mà dám beng.

 

1.1.5 Bườm : nói trại từ tiếng "buồm", là tấm vải dày hay cói đan, căng trên thuyền để hứng gió, nhờ sức gió đẩy thuyền chạy. Trong bài Vè Cát Lái (hát ra), lưu hành tại Bình Định, có thổ ngữ này:

 

Thuận bườm xuôi gió một phen,Ghé vô cửa Giã trong miền Hòn Mai.

 

1.1.6 Cái : tất cả, thảy đều. Thổ ngữ xưa, nay không dùng. Trong văn bản Hát bả trạo, lưu hành tại Bình Định, ở phần mở đầu có dùng thổ ngữ này:

 

Tổng hậu (ra lệnh):    Ớ bá trạo!    Cái khai thuyền hầu trạo.Con trạo (đồng thanh):    Dạ!

 

1.1.7 Cành nanh hay cành hanh : đành hanh. Trẻ em hoặc phụ nữ trẻ có thái độ ngang bướng, đòi phải được lãnh phần hơn đồng lứa của nó một cách vô lý.

 

Thí dụ: Đứa bé đòi độc quyền nằm bên mẹ, không cho anh em của nó được cùng nằm chung. Người mẹ bèn mắng: "Con nhỏ cành nanh quá!"

 

1.1.8 Cầm đũa : khi ngồi vào bàn ăn, người Bình Định tiếp khách bằng câu nói "mời cầm đũa" tức là mời ăn.

 

1.1.9 Cha chả : cùng nghĩa với thán từ "chà", thường dùng trong những tuồng hát bội Bình Định, đặt trước câu nói để biểu lộ sự ngạc nhiên, bực tức, hay tán thưởng.

 

Thí dụ: Trong tuồng Trầm Hương Các của Đào Tấn, phần cuối: Bá Lộc đài xây xong, vua Trụ mở hội Diêu Trì thỉnh tiên phó yến, Đát Kỷ bèn mời đồng loại là đám yêu tinh giả làm quần tiên đến dự. Trong lúc quá chén, lũ yêu để lộ chân tướng, nên gấp rút cáo lui.

 

Mở đầu lớp 16, bầy yêu nói: "Cha chả là say thôi! Tốc tốc phản hồi động lý, Man man phi liễu tiên đài" (Chóng chóng trở về hang động, Mau mau rút khỏi đài tiên).

 

1.1.10 Chẹ : còn gọi là chớ ẹ, tương đương với tiếng "mà" đặt ở cuối câu để biểu thị ý cầu xin, năn nỉ, hay khẳng định, hoặc giải thích, với tính thuyết phục người đối thoại. Vậy "chẹ" là tiếng đệm tiếp sức cho lời thỉnh cầu mạnh lên.

 

Thí dụ: Đứa em nhỏng nhẻo nói: "Anh Hai cõng em đi chẹ!"

 

1.1.11 Chớp ảnh : còn gọi là chốp ảnhchộp ảnh, tức chụp ảnh. Theo nghĩa thông thường, trước kia người ta dùng chữ "chớp ảnh hay chớp bóng", nay dùng chữ "chiếu phim" đều chỉ chung cho việc chiếu ánh sáng qua phim đã ghi hình, để cho hình ảnh ấy hiện lên màn ảnh. Ở Bình Định chữ "chớp ảnh" lại có một nghĩa khác là dùng máy hình để chụp ảnh.

 

Thí dụ: Sau một tấm ảnh, thay vì ghi là: "Chụp ảnh tại...ngày.. tháng.. năm...", thì người Bình Định, nếu dùng thổ ngữ, lại đề là: "Chớp ảnh tại..."

 

1.1.12 Chộp rộp : dùng thay cho chữ "chộn rộn". Trước kia người Bình Định rất quen dùng nên thường thấy trong bài vè cổ, nay không còn thông dụng nữa:

 

Tao làm tội tao chịu cho,Bay không chộp rộp sợ lo nỗi gì.(Vè Chú Lía)

 

1.1.13 Chui cha : tiếng tán thán được đặt trước câu nói để biểu lộ sự ngạc nhiên, trầm trồ, than thở, giải bày...

 

Thí dụ: Chui cha mày quơi (ơi)! Tao mới giừa (vừa) đau một trận giữ (dữ) lắm.

 

1.1.14 Chưng hửng : theo nghĩa thông thường là sửng sốt, rất ngạc nhiên, tạo trạng thái ngẩn người vì sự việc xảy ra trái với dự đoán. Nhưng đối với người Bình Định, còn dùng từ ngữ "chưng hửng" với nghĩa là: nói năng vô duyên, lảng nhách, không ăn nhập vào đâu cả.

 

Thí dụ: Người em bày tỏ một ý kiến gì đó, người chị không vừa ý, bèn nói: "Chưng hửng quá!", hoặc nói: "Chưng hửngnà!"

 

1.1.15 Dẫy na : tương đương với tiếng "vậy hả"

 

Thí dụ: Người con khoe :- Mẹ ơi! tháng này con học đứng nhất lớp.Người mẹ vui mừng đáp:- Dẫy na.

 

Ngoài ra còn có các tiếng: Dẫy nghen : vậy nhé; Dẫy á : vậy đó.

 

 

1.1.16 Dẹ : gớm, ghê; tỏ ý chê bai, không đồng tình với ý người đối thoại.

 

Thí dụ: Thằng A nói với B: "Con C đẹp quá!"Thằng B bĩu môi nói: " Dẹ!"

 

1.1.17 Dện : nện, tác động mạnh từ trên xuống.

 

Thí dụ: Tao dện cho nó một đạp.

 

1.1.18 Dến : đánh với tác động ngang.

 

Thí dụ: Mày dến cho nó một tát tai.

 

1.1.19 Dí, thá, dớn dọ, dọ : các thổ âm này là tiếng dùng làm âm hiệu để điều khiển trâu, bò trong việc cày bừa và chăn dắt. "Dí" là khẩu lệnh cho bò đi lệch về bên phải, "thá" bên trái, "dớn dọ" đi chậm chuẩn bị dừng, "dọ" đứng hẳn lại, không đi nữa.

 

1.1.20 Dìa : thay cho chữ (đi) "về". Văn bản bài Vè Cát Lái (hát vô) chép:

 

Nhà Bè nước chảy chia haiAi về Gia Định, Đồng Nai thì về.

 

nhưng người Bình Định quen hát:

 

Nhà Bè nước chảy chia haiAi dìa Gia Định, Đồng Nai thì dìa.

 

1.1.21 Dọi : tiếng lóng của dân chài, chỉ hiện tượng dậy sóng ở biển khơi, khi có Ông (tức cá voi) xuất hiện:

 

Đến khi phụ mẫu rằng nghe,Thấy tin lên dọi quay lui trở về.(Hát bả trạo)

 

1.1.22 Dữ ngư : rắn mặt, lờn mặt. Tiếng để nói trẻ con không vâng lời, khó dạy bảo. Địa phương có câu khuyên: "Thương con phải kín đáo kẻo nó dữ ngư".

 

1.1.23 Đứng : đấng (danh từ), chỉ cho người được suy tôn vì có công lao, sự nghiệp hay phẩm cách cao quý đáng trọng.

 

Biết mặt lúc này mới biết,Đứng (đấng) làm người có việc phải lo.(Hát bả trạo)

 

1.1.24 Ẻ mà : dùng như chữ "nhưng mà", nay không còn thông dụng nữa.

 

Trong tuồng Hộ Sanh Đàn của Đào Tấn, văn liệu dẫn chứng, ở đoạn Dương Tú Hà giận chồng có tên là Tiết Nghĩa mà lại nhẫn tâm làm việc đại bất nghĩa, nên bà đã thắt cổ tự tử. Tiết Nghĩa hay tin, bèn nói với quân hầu:

 

"Ẻ mà đáng kiếp ! Quân bay,Thi hài nọ sơn trung mai táng (đem chôn trong núi) đi cho rảnh".

 

1.1.25 Giã : tiếng chỉ cho làng đánh cá ở ven biển. Trong bài Vè Cát Lái (hát vô) có thổ ngữ này:

 

Cửa Giã có hòn án ngoài,Các lái thường ngày hay gọi Lao Xanh.

 

"Cửa Giã" trong bài này là cửa đầm Thị Nại.

 

1.1.26 Hé : luôn luôn đứng sau câu để vừa hỏi vừa khẳng định: Mạnh giỏi hé? hoặc để khen ngợi, trầm trồ: Đẹp quáhé!.

 

1.1.27  Hử : ngửi, hít vào bằng mũi để nhận biết, phân biệt mùi vị.

 

Thí dụ: Cá ương, hử nghe mùi hôi.

 

1.1.28 Hữ : biến thể của trạng từ "hả", thường đặt ở cuối câu hỏi nhằm xác định thêm điều mình đang nghi vấn.

 

Trong tuồng Hộ Sanh Đàn của Đào Tấn, văn liệu dẫn chứng, trước khi Tú Hà quyên sinh vì giận chồng thì đã có đoạn: Tiết An vào báo cho bà biết việc Tiết Nghĩa (chồng của bà) đã tham danh lợi, lừa bắt ân huynh là Tiết Cương giải nộp cho Võ Hậu. Khi Tiết An vừa mới nói: "Dạ, phu nhân hữu cấp sự" (Dạ bẩm phu nhân có việc gấp). Tú Hà đoán việc chẳng lành, vội hỏi ngay: "Hà sự hữ?" (Việc chi hả).

 

1.1.29 Í chui : tiếng tán thán thốt ra vì đau đớn không chịu đựng được, khi bị một lực tác động mạnh vào cơ thể.

 

Thí dụ: Í chui, (cây) gai đâm đau quá!

 

1.1.30 Lèo : dây cột buồm.

 

Nới lèo rán [1] lái mau mauChâu Me, Lò Rượu sóng xao Hòn Nhàn.(Vè Cát Lái – Hát vô)

 

1.1.31 Lừa : là động từ nói trại từ tiếng "lùa"

 

Thí dụ: Nông dân lừa trâu ra đồng ăn cỏ.

 

1.1.32 Lúa co : tên của một loại lúa có hạt gạo đỏ. Ca dao Bình Định có câu:

 

Đừng ham gạo trắng thơm tho,Lúa trì cùng với lúa co chắc lòng.

 

1.1.33 - Na : tương đương với chữ "sao", biểu thị ý nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên. Trong bài thơ Tạ Ơn Năm Đầucủa Việt Thao có dùng thổ ngữ này:

 

Thân bèo năm tháng hẫng trôi,Gió đem cái lạnh hay đời lạnh na?

 

1.1.34 Nại : Theo các từ điển [2], "nại" là ruộng muối, chỗ làm muối; nhưng với thổ ngữ Bình Định, tiếng "nại" chỉ dùng để gọi vùng đất chuyên làm muối nằm ven bờ Tây đầm Thị Nại, đoạn từ thôn Nhơn Ân (phía bắc), Bình Thới, Quảng Vân, An Định, Lương Nông đến thôn Bình Thạnh (phía nam). Thí dụ: chỗ nại, dân nại, ở nại, vùng nại, làng nại... Và người ta thường nói: "Lên nguồn xuống nại" để chỉ cho việc lên vùng núi cao ở phía Tây Bình Định và xuống vùng ruộng muối các thôn nói trên. Ở Bình Định, ngoài đầm Thị Nại, còn nhiều vùng làm muối khác, nhưng họ không gọi nơi đó là "nại". Có lẽ muối đầm Thị Nại đặc biệt được triều đình chọn dùng.

 

 

1.1.35 Nậu Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch , trang 191, đề cập đến việc Ký lục Chính dinh Nguyễn Đăng Đệ đi tuần xét các phủ ở xứ Quảng Nam vào tháng tư năm Bính Ngọ (1726) có định rõ chức lệ cho các thuộc (tổng mới lập), sách đã dẫn: "Mỗi thuộc đều lấy những thôn, phường, nậu, man lẻ tẻ họp lại (nậu nghĩa là làm cỏ ruộng, tục gọi đám đông người là nậu, ý là hợp nhiều người để làm ruộng)".

 

Trên đây, tiếng "nậu" chỉ dùng để gọi những người cùng làm ruộng, nhưng ở Bình Bịnh đại danh tự này được dùng rộng rãi, gọi những người cùng giới, cùng nghề nghiệp, cùng chỗ ở, cùng sinh hoạt, hay cùng hoàn cảnh. Vậy "nậu" luôn luôn ở ngôi thứ ba số nhiều và phải đi kèm với một danh tự theo sau nó mới đủ nghĩa, chẳng hạn như: "nậu nguồn" là tiếng gọi chung những người ở miền thượng du, "nậu hạ bạn" chỉ chung cho dân sống ở vùng cửa sông đổ ra biển, "nậu rổi" (phát âm sai thành "nậu rẩu") là những người đàn bà chuyên bán cá ở các chợ, "nậu hàng xén" là nhóm người bán hàng tạp hóa ở vỉa hè hay ở chợ, "nậu bạn hát" chỉ chung cho nam nữ diễn viên chuyên nghề hát bội. Ca dao Bình Định thường dùng đến tiếng "nậu":

 

Ai về nhắn với nậu nguồnMăng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên.

 

Hoặc

 

Đừng chê nậu rổi tanh hôi,Có nhờ nậu rổi mới rồi bữa cơm.

 

1.1.36 Nẫu : là hiện tượng biến đổi thanh điệu nhưng vẫn giữ âm trầm, nghĩa là chỉ chuyển từ dấu nặng sang dấu ngã. Tiếng "nậu" chuyển hóa thành "nẫu" vẫn là đại danh tự nhưng ý nghĩa của nó rất rộng rải và không cần một danh tự đi kèm. "Nẫu" được dùng ở ngôi thứ ba, số ít, cả số nhiều, có nghĩa là họ, người ta, người ấy. Tiếng "nẫu" còn thấy ở ngôi thứ nhất (tôi) và ngôi thứ hai (mầy, anh, em) nhưng dùng hạn chế.

 

* Tiếng "nẫu" ở ngôi thứ ba số ít, trong ca dao Bình Định có nhiều, chẳng hạn như:

 

Thương chi cho uổng công trình,Nẫu về xứ nẫu, nẫu bỏ mình bơ vơ.

 

* Tiếng "nẫu" được dùng ở ngôi thứ ba số nhiều, trong bài chòi Bình Định, câu thai Ngũ trợt có đoạn:

 

Ngó ra ngoài chợ,Nẫu bán trạnh cày.Roi mây lưỡi cuốc,Nẫu bày nghinh ngang...

 

* Ở ngôi thứ hai số ít, tiếng nẫu được dùng với bạn thân, người yêu, có thể nói: "Nẫu đi đâu giậy (vậy)?" với giọng hạ thấp để biểu lộ sự thân mật, trìu mến. Trong ca dao Bình Định cũng có câu:

 

Nẫu về Bình Định chi lâu,Bỏ tui ở lại hái dâu một mình.

 

* Đôi lúc còn thấy tiếng nẫu ở ngôi thứ nhất khi bày tỏ giọng điệu nũng nịu yêu đương. Thí dụ:

 

Chồng hỏi: "Nẫu đi ngủ chưa?" (ngôi thứ hai)Vợ đáp: "Nẫu hổng đi ngủ!" (ngôi thứ nhứt)

 

* Cũng trong ngôi thứ nhất, có khi dùng "nẫu" để đáp lại với thái độ hờn lẩy, nhẹ nhàng: "Nẫu làm gì thây kệ nẫu, hỏi chi hé!"; nếu muốn xẳng hơn một chút, thì đáp gọn: "Kệ nẫu".

 

Nậu và nẫu là thổ ngữ đặc biệt nhất của xứ Bình Định, vì vậy người ở các tỉnh khác gọi đùa người Bình Định là "dân nẫu".

 

1.1.37 Nghe : tiếng đệm sau một câu, đồng nghĩa với trạng từ "nhé", có hai chức năng:

 

* Để tỏ ý thân mật. Thí dụ: Cháu đi mạnh giỏi nghe!

 

* Còn có ý nghĩa là ân cần dặn dò, như trong bản Hát bả trạo, văn liệu dẫn chứng ở đoạn Tổng khoang nhắc nhở bạn chèo qua câu nói lối:

 

"Truyền cho bả trạo nghe Tổng tiền (mà) hò cho tử tế chứ chẳng chơi, nghe!".

 

1.1.38 Ờ hé : tức là "vậy à", tiếng hỏi gằn lại để tô đậm việc vừa nghe qua.

 

Thí dụ: Vợ nhắc chồng: "Chiều nay anh nhớ về sớm, đi dự sinh nhật của cháu Vân". Chồng sực nhớ, bèn đáp: "Ờ hé! suýt nữa anh quên mất".

 

1.1.39 Óng : xa quá, vượt quá mục tiêu.

 

Thí dụ: Trên xe buýt, một hành khách kéo dây báo hiệu dừng ở trạm tới, nhưng tài xế vì lơ đãng chạy luột qua nơi muốn ngừng. Hành khách càu nhàu: "Chạy óng đâu tuốt quãy".

 

1.1.40 Quá : như.

 

Theo nghĩa thông thường: "quá" là vượt qua mức thường (trạng từ), vượt ngang (động từ), lỗi lầm (danh từ), tương đương với chữ "ngóa" (đại danh từ: Quá thì hốt thuốc, lứ bong vụ – Thơ Học Lạc). Nhưng với thổ ngữ Bình Định, tiếng "quá" đồng nghĩa với chữ "như", dùng trong các câu nói ví. Thí dụ: Trong bài Vè Dư Đành có câu:

 

Dư Đành sức mạnh quá trâu,Vùng lên quấnh (đánh) ngã cả xâu triều đình.

 

1.1.41 Quã : biến thể từ tiếng "ủa", mang hai chức năng:

 

* Lúc đơn thuần tỏ sự ngạc nhiên. Thí dụ: Quã, anh qua Mỹ hồi nào?

 

* Khi dùng để biểu lộ sự bực mình, cũng do sự ngạc nhiên đem lại:

 

Thí dụ: Quã, sao mầy quấnh (đánh) tao?

 

"Quã" và "hữ" là hai thổ ngữ thường dùng nhất trong khi nói chuyện với nhau.

 

1.1.42 Quải : tương đương với từ ngữ "cúng giỗ".

 

Trong bài Vè Chú Lía, văn liệu dẫn chứng ở câu 1242, gánh hát bội bầu Lễ bị Lía gọi lên sơn trại trình diễn. Bởi trước đó có nhiều ông bầu bị Lía chém đầu vì hát dở, bầu Lễ thế buộc phải ra đi trong lo sợ:

 

Nghĩ thôi lệ nhỏ dầm đàng,Đi khắp xóm làng từ giã bà con.Vợ con khóc lóc thở than,Quải đơm tế sống đã an mọi bề.

 

1.1.43 Quãy : ngoài đó, ngoài ấy. Thí dụ: Dìa quãy, tức về ngoài đó.

 

1.1.44 Quấnh, quýnh : nói trại từ tiếng "đánh". Xem thí dụ thổ ngữ "quã", số 1.1.41.

 

1.1.45 Quớ : bớ. Tiếng đứng trước dùng để lấy trớn gọi lớn cho người ở xa nghe được. Thí dụ: Quớ mẹ quơi (ơi)!Quớ làng xóm quơi (ơi)!

 

1.1.46 Quợ quợ : chiếu lệ, lấy lệ.

 

Thí dụ: Anh chẳng làm được trò trống gì, chỉ theo quợ quợ thôi.

 

1.1.47 Rội : thêm vào, châm thêm.

 

Thí dụ: trong bữa cơm đãi khách, người chủ nhà thấy các thức ăn trong mâm đã cạn, vội gọi người hầu bàn: "Rội đồ ăn (thức ăn) lên bay!".

 

1.1.48 Soi : nương, bãi đất cao ven sông, chuyên trồng hoa màu như đậu, bắp, mè, hoặc trồng dâu nuôi tằm. Bài thơ Cho Quê Ngoại của Việt Thao, có dùng thổ ngữ này:

 

Hàng sung rũ bến đò ngang,Mênh mông lúa trải, ngút ngàn bắp soi.

 

1.1.49 Sướng mạ : nghĩa thông dụng là chỗ đất để gieo mạ, ruộng gieo mạ, đám mạ. Ở Bình Định tiếng "suớng mạ" dùng với nghĩa hạn hẹp hơn, tương đương với luống mạ tức là dải đất có gieo mạ. Vì trong một đám mạ, thường chia ra làm nhiều luống dài và hẹp chừng 2 mét, giữa các luống có chừa lối đi nhỏ.

 

Thí dụ: Mày làm việc chậm rì, cả ngày mà nhổ không xong một sướng mạ.

 

1.1.50 Thàn : hiền khô, tức là bản chất rất hiền lành mà còn biểu lộ sự chân thật rõ trên nét mặt.

 

Thí dụ: Ông ấy thàn quá!

 

1.1.51 Thắt thể : tương đương với chữ "như thể".

 

Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo (1869- 1934) lãnh tụ Phong trào Kháng Thuế ở Bình Định, qua bài thơ Trong Tù (dài 46 câu), Ông có dùng thổ ngữ này:

 

Bề gia thất con thơ lịu địu,Vợ trông chồng thắt thể vọng phụ.

 

1.1.52 Thộn : ngây ngô, đần độn (tĩnh từ); nhưng với thổ ngữ Bình Định có nghĩa là ăn một cách ham hố quá mức (động tự).

 

Thí dụ: Thấy em đòi ăn quá, chị nói lẩy:

 

- Đấy, mầy thộn vô cho hết !

 

1.1.53 Thưng thưng : nhanh và êm ả.

 

Trong bài Vè Cát Lái (hát ra), đoạn tả cảnh vùng biển huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, có dùng thổ ngữ này:

 

Vũng Cù sóng vỗ lao xao,Nồm thổi ngọt ngào, ghe chạy thưng thưng.

 

1.1.54 Vời : biến thể từ tiếng "khơi" là vùng biển ở xa bờ. Vè Cát Lái (hát vô):

 

Hòn Sụp ta sẽ buông khơi,Trọng vịnh, ngoài vời, núi đất mênh mang.

 

 

1.2 THỔ NGỮ THEO ĐÀ NAM TIẾN

 

Tùy theo nguồn gốc, nhóm thổ ngữ này có hai loại:

 

1.2.1 Thổ ngữ gốc gác từ các tỉnh Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, đời Hồng Đức (1470- 1497), theo lớp người di dân vào định cư phủ Hoài Nhơn, như tiếng:

 

1.2.1.1 Ghè : tiếng gọi chung ba loại chum, vại, lu, cỡ nhỏ và bằng sành. Cũng trong bài Vè Cát Lái (hát vô) có câu:

 

Gặp nhau chưa nói đã cười,Kìa núi Từ Phú là nơi nhiều ghè.

 

1.2.1.2 Té ra : chuẩn bị nói ra những điều bất ngờ vừa nhận thức được, nên thổ ngữ này thường đứng đầu câu và tương đương với từ ngữ "thì ra, hóa ra".

 

Trong tuồng Cổ Thành của Đào Tấn, văn liệu dẫn chứng ở đoạn Quan Vũ được Tào Tháo thả cho về đất Tây Thục, khi qua ải do Hạ Hầu Đôn trấn giữ, bị chặn lại vì hắn không muốn thả cọp về rừng.

 

Hạ Hầu Đôn nói: "Giỏi đánh với Đôn đã!"Quan Vũ trả lời: "Té ra ngươi đã muốn đề thương chấp kích. Vậy thì ta cũng nguyền sánh mã giao phong."

 

1.2.1.3 Vát : xiên, lệch sang một bên. Với Bình Định, Vát là tiếng lóng của dân chài, chỉ sự việc kéo xiên xiên lá buồm để thích nghi với thuyền chạy ngược gió. Bài Vè Cát Lái (hát vô), có đoạn:

 

Vát ra khỏi mũi Sa HoàngKìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa.

 

1.2.2 Thổ ngữ phát sinh từ Bình Định, theo đà Nam tiến đến tận Nam Kỳ, cũng được xếp vào nhóm thổ ngữ Bình Định, như tiếng:

 

1.2.2.1 Bậu : đồng nghĩa với đại danh tự (pronouns) "em, nàng, mình", dùng gọi vợ hay người yêu của ta. Trong hội bài chòi, gặp con bài Tứ cẳng, còn gọi là Tứ ghế hay Tứ móc, chú Hiệu thường hô câu thai có thổ ngữ này:

 

Một hai bậu nói rằng không,Dấu chân ai đứng bờ sông hai người.

 

1.2.2.2 Chàng ràng : Theo nghĩa thông dụng là quanh quẩn bên cạnh, không rời. Ở Bình Định, tiếng "chàng ràng" còn biểu thị tình trạng ham muốn cả hai, không dứt khoát bên nào. Ca dao Bình Định dùng nhiều đến chữ này theo nghĩa thổ ngữ, có khi đặt ở đầu câu:

 

Chàng ràng ếch ở hai hang,Như chim hai ổ, như nàng hai nơi.

 

có lúc đặt ở cuối câu:

 

Chợ chiều nhiều khế ế chanh,Nhiều con gái lứa nên anh chàng ràng.

 

1.2.2.3 Chầu rày : lúc này, hồi này, khoảng thời gian này. Bài chòi Bình Định gặp con bài Bát bồng, Hiệu thường hô câu thai:

 

Chầu rày đã có trăng non,Để tui lên xuống có con em bồng.

 

1.2.2.4 Cỏn, Thẵng : đại danh từ ngôi thứ ba số ít, "cỏn": con ấy, con vợ mày; "thẵng": thằng ấy, thằng chồng mày; và dùng cho người trên nói với con cháu một cách thân tình.

 

Thổ ngữ này theo đà Nam tiến vào miền Lục tỉnh, nhưng giọng Nam quen phát âm thiếu dấu ngã (~), nên "cỏn, thẳng" cả hai đều mang dấu hỏi và trở thành phương ngữ Nam Bộ.

 

Trong khi đó, Bình Định, phát âm đủ sáu dấu (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) nên "thẵng" mang dấu ngã.

 

Thí dụ: Người cô hỏi đứa cháu gái: "Thẵng đi đâu rồi?"Người cháu trả lời: "Dạ, ảnh (chồng cháu) mới đi ra phố."

 

1.2.2.5 Đặng : được, đạt tới (động từ).

 

Thí dụ : Tuổi đặng (được) sáu mươi rồi.

 

Bình Định còn dùng "đặng" với ngữ nghĩa là "để" (trạng từ)

 

Thí dụ: Ớ Trung khoang!Phó cho Trung khoang gìn giữ nội thuyềnĐặng (để) canh lấy nước non mà tát.(Hát bả trạo)

 

1.2.2.6 Gởi : nói trại âm tiếng "gửi". Ca dao Bình Định có câu:

 

Bơ vơ thì mặc bơ vơ,Nẫu về xứ nẫu, nẫu gởi thơ cho mình.

 

1.2.2.7 Hén : là thán từ đặt cuối câu, tương đương với tiếng "phải không, nhỉ", trình bày dưới hình thức câu hỏi, nhằm tranh thủ sự tán đồng của người nghe:

 

Thí dụ: Vui quá hén!

 

1.2.2.8 Hông, Hổng : là trạng từ, biến đổi từ tiếng "không", trong câu trả lời biểu thị ý phủ định.

 

Thí dụ: Chồng hỏi vợ: "Em ăn hông"Vợ trả lời: "Hổng ăn"

 

1.2.2.9 Hun : biến đổi từ tiếng "hôn", là áp môi hoặc mũi vào thân thể một người khác, thường ở mặt và tay, rồi hít vào để tỏ lòng yêu thương, quý mến.

 

Thí dụ: Mẹ hun con.

 

1.2.2.10 Mau (còn gọi là mâu) : nhanh, lanh. Phương ngữ này đã thành phổ thông trong thơ văn, đơn cử câu thai Nhứt nọc của bài chòi Bình Định:

 

Tiếng ai văng vẳng kêu đò,Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.

 

1.2.2.11 Qua : đồng nghĩa với đại danh từ ngôi thứ nhất "tôi, ta, tao"

 

Tiếng "qua" chỉ dùng cho bậc đàn anh xưng với đàn em hoặc với người cấp dưới. Ca dao Bình Định có câu:

 

Hầu (hồi) nào làm bạn với qua,Bây giờ bỏ bạn đi ra ăn mày.

 

"Qua" còn dùng khi chồng xưng với vợ và để đối lại với tiếng "bậu", chồng gọi vợ. Ca dao địa phương cũng có câu:

 

Cỏ mọc bờ giếng cheo leo,Lâm chung có bậu, hiểm nghèo có qua.

 

1.2.2.12 Ráng : đồng nghĩa với chữ "cố, gắng sức".

 

Trong văn bản hát bả trạo, lưu hành ở Bình Định, có đoạn Tổng khoang diễn hát với bạn chèo qua câu nói lối đã dùng thổ ngữ này: "Ớ bá trạo ơi! Anh em ráng mà đưa thuyền cho tới nơi giang đáo xứ túc hộ trì."

 

1.2.2.13 Trển : trên đó, trên ấy.

 

Bài vè Chợ Gò Chàm, chú Hiệu dùng thổ ngữ "trển" hô bài chòi cho câu thai Ngũ trợt:

 

Buôn mọi bán rợ,Mấy chú An Khê.Ở trển đem về,Xấp trầu nài rễ.

 

 

2. THỔ ÂM

 

Phần lớn thổ ngữ là sự biến thể một số từ ngữ ở một vùng nhỏ hẹp và là tiếng nói lưu hành ở từng địa phương, còn thổ âm là giọng nói đặc trưng của một vùng có cùng tính chất phong thổ.

 

Người Bình Định, giọng nói sang sảng, phát âm rõ ràng L với N, S với X, trong lúc có một số miền khác không thể phát âm đúng (xem phần đặc điểm giọng nói); nhưng bởi giọng cứng, nên gặp phải một số trường hợp sau đây:

 

2.1 PHÁT ÂM SAI

 

Trên toàn cõi nước ta không có vùng nào phát âm hoàn toàn đúng, mà cũng không có vùng nào phát âm hoàn toàn sai; và các điểm đúng, sai ấy không hoàn toàn giống nhau. Ở Bình Định, do bản chất của giọng nói ít để ý đến cách phát âm, nghĩa là không chịu khó phát âm cho trọn tiếng, nên thường nói sai các vần dưới đây. Tuy nhiên, ngày nay do sự truyền thông và tiếp xúc rộng rãi, người dân ở thành phố và lớp trí thức đã phát âm đúng khá nhiều, còn ở thôn quê cũng có phần sửa đổi.

 

2.1.1  Vần ÔI phát âm thành ÂU: Các tiếng như "Cầu Đôi, thôi rồi, con đồi mồi..." phát âm thành "Cầu Đâu, thâu rầu, con đầu mầu...", nay vẫn còn thông dụng.

 

Vì vậy, người Bình Định ở thôn quê hát câu ca dao sau đây, nếu viết theo phát âm sẽ là:

 

Cầu Đâu nằm cạnh tháp Đâu,Vật vô tri còn biết đèo bòng đâu lứaHuống chi tui với nàng.

 

Nhưng lại có trường hợp biệt lệ, tiếng "tôi" người ta không phát âm thầnh "tâu" mà nói trại là "tui".

 

2.1.2 Vần OA, OE phát âm thành A, E và nếu có phụ âm mở đầu là Kh, phát âm thành Ph. Các tiếng như "khoa trương, khoe khoang, khỏe khoắn..." phát âm thành "pha trương, phe phang, phẻ phắn....", nay đã sửa đổi nhiều.

 

2.1.3 Vần OM và ƠM phát âm thành ÔM : Các tiếng như "lom khom, tối om, ăn cơm, sáng sớm..." phát âm thành "lôm khôm, tấu ôm, ăn côm, sáng sốm...", nay vẫn còn dùng nhưng giới hạn trong gia đình và đồng hương thân tình.

 

2.1.4 Vần ƯƠI phát âm thành Ư : Các tiếng như "người ta, đười ươi, cười tươi, cây bưởi..." phát âm thành "ngừ ta, đừ ư, cừ tư, cây bử..."

 

Thí dụ: Nếu viết theo phát âm sẽ là:

 

Trèo lên cây bử hái hoa,Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

 

2.1.5 Vần ÊP phát âm thành IP : Một số tiếng như "bếp lửa, rượu nếp, xếp đặt" phát âm thành "bíp lửa, rượu níp, xíp đặt".

 

2.1.6 Tiếng ƠI được thêm QU ở phía trước : Những tiếng như "Trời ơi! Làng xóm ơi! Em ơi!..." phát âm thành "Trời quơi! Làng xốm quơi! Em quơi!...". Vẫn còn thông dụng ở miền quê.

 

2.1.7 Phụ âm khởi đầu bằng V và D phát âm thành G :

 

Hai câu dưới đây, nếu viết theo phát âm của Bình Định sẽ là:

 

Thầy giáo giạy giỗ (dạy dỗ) chúng em.Cho em đi theo giới (với).

 

2.1.8 Các trường hợp khác đã phát âm sai :

 

Ông ngoại phát âm thành ông quại.Ngoài kia phát âm thành quài kia.

 

 

2.2 PHÁT ÂM BIẾN GIỌNG

 

Phát âm sai có tính cách chung cho toàn tỉnh, còn phát âm biến giọng chỉ xảy ra cho một vùng rất nhỏ, hoặc vì ở lân cận với miền có giọng nói khác, hoặc sinh sống nhiều đời ở những làng hẻo lánh sát biển và ít tiếp xúc với người ở miền khác, hoặc lúc còn nhỏ phát âm chưa đúng giọng.

 

2.2.1 Vần A phát âm thành EA kéo dài :

 

Trẻ em giọng còn non nớt, khi phát âm các tiếng có nguyên âm cuối "a" thay vì há miệng quặt lưỡi, lại mở miệng đánh cong lưỡi nên trở thành "ea" kéo dài. Vì vậy các tiếng như "ông ba, bà má" trẻ con phát âm thành "ông bea, bèa méa".

 

2.2.2 Vần ĂN phát âm gần giống như EN :

 

Chẳng hạn nói "ăn cơm" mới nghe như "en côm"; "en" do phát âm biến giọng ở một vùng nhỏ, còn "côm" là do thói quen phát âm sai toàn tỉnh. Muốn điều chỉnh sự biến giọng ở tiếng này, cần phát âm "ăn" bằng giọng cổ, hơi tròn miệng lại một chút và đè lưỡi chứ không đưa lưỡi.

 

2.2.3 Vần ẢY phát âm na ná tiếng E :

 

Chẳng hạn nói "chiều thứ bảy" mới nghe như "chiều thứ bẻ". Hai trường hợp trên chỉ xảy ra ở vùng Bắc Bình định, từ Bồng Sơn trở ra. Tuy không phát âm biến giọng hẳn, nhưng người xứ khác không phân biệt được, tưởng lầm họ là người Quảng Ngãi.

 

2.2.4 Vần ƠI phát âm cộc và ngắn :

 

Người ở miền núi giọng cứng hơn người ở đồng bằng và miền biển, nên khi phát âm những tiếng có vần "ơi" như: bơi, chơi, mời... họ có thói quen cứng lưỡi thay vì cong đầu lưỡi lên, vì vậy giọng nghe hơi cộc và ngắn.

 

2.2.5 Phát âm chả chớt :

 

Trường hợp này phổ biến ở một số vùng dân cư chuyên nghề đánh bắt cá biển. Họ quen phát âm ở đầu lưỡi với giọng líu lo, chả chớt, bởi thanh điệu nghiêng về bổng hơn là trầm, nên những tiếng thuộc dấu huyền, nặng, ngã chuyển âm na ná như tiếng mang dấu ngang, sắc, hỏi.

 

Thí dụ: Ở Binh (Bình) Đính (Định) con (còn) có túc (tục) giả (giã) gáo (gạo) hát ho (hò) vao (vào) nhửng (những) đêm trăng sáng.

 

Điển hình là vùng Nhơn Lý, ở phía đông bán đảo Triều Sơn, trước là xã Phước Lý của quận Tuy Phước, khoảng năm 1975 thuộc xã ngoại thành Qui Nhơn, có giọng chả chớt và còn giữ nhiều thổ âm miền biển của Bình Định.

 

2.3  PHÁT ÂM LẪN LỘN

 

Phát âm lẫn lộn khi hai chữ có phụ âm khởi đầu, hoặc phụ âm cuối khác nhau, hay có khi khác vần, nhưng lại phát âm giống nhau.

 

Người Bình Định phát âm lẫn lộn ở các trường hợp sau đây:

 

2.3.1 Phát âm không phân biệt hai phụ âm khởi đầu D và GI :

 

Thí dụ: Chó dữ // Giữ nhà,Dì ghẻ // Cái gì vậy.

 

2.3.2 Phát âm không phân biệt hai phụ âm cuối C và T :

 

Thí dụ: Mặc kệ // Mặt mày,Khuân vác // Đẽo vát

 

Nhưng lại phát âm phân biệt được, khi trước phụ âm cuối và có nguyên âm O, Ô, U đi kèm.

 

Thí dụ: Móc túi // Mót lúa,Mộc mạc // Một mai,Lúc đầu // Lút đầu.

 

2.3.3 Phát âm không phân biệt được, khi trước phụ âm cuối CH và T, có nguyên âm Ê đi kèm :

 

Thí dụ: Mũi hếch // Ăn hết

 

2.3.4 Phát âm không phân biệt hai phụ âm cuối N và NG, N và NH :

 

Thí dụ:1: Đan lát // Đang lúc,Vác thang nặng thở than.

 

Thí dụ 2: Lên đồng // Lênh đênhHên xui // Hênh hếch.

 

Nhưng lại phát âm phân biệt được khi có nguyên âm I đứng trước N và NH.

 

Thí dụ: Tin tức // Tinh túyXin xỏ // Xinh xắn

 

2.3.5 Phát âm không phân biệt vần IU với IÊU; UI với UÔI :

 

Thí dụ 1: Đìu hiu // Điều hòa,Thí dụ 2: Mắt đui // Cái đuôi

 

Nhận xét: Phát âm sai và phát âm lẫn lộn đều mang tính phổ biến toàn tỉnh, nhưng tình trạng phát âm sai ngày nay đã giảm bớt, còn phát âm lẫn lộn vẫn chưa sửa đổi.

 

 

3. LỐI NÓI BÌNH ĐỊNH

 

Ở Bình Định cũng phổ biến cách nói ví, nói lóng và nói lái nhưng mang màu sắc riêng, đặc trưng cho địa phương.

 

3.1 NÓI VÍ

 

Có những phương ngôn thường lồng vào trong câu chuyện để ví von, cụ thể hóa được vấn đề hay thêm phần đậm đà cho sự so sánh. Những câu nói ấy chỉ người địa phương mới hiểu ý ẩn dụ của nó, chứ không thể phân tích đơn giản bằng ngữ nghĩa thông thường các từ đã tạo nên câu nói đó. Điển hình một số câu phổ biến như:

 

3.1.1 - Ngang quá ông Chảng :

 

Chữ "quá" trong câu này là thổ ngữ của Bình Định nên có nghĩa là: ngang như ông Chảng; dùng để ví những ai ngang bướng chưa từng có.

 

Sở dĩ có câu này vì ờ làng Bằng Châu, nay thuộc xã Đập Đá (huyện An Nhơn), vào thời Tây Sơn có võ sư Đinh Văn Nhưng, tục danh là ông Chảng, tính tốt nhưng ngang ngạnh khác thường, suốt đời chưa hề kiêng nể ai. Ba anh em Tây Sơn lúc nhỏ có đến xin học võ, được thầy Chảng tận tình truyền đạt. Khi xưng vương, Nguyễn Nhạc nhớ ơn thầy cũ mà ba anh em đã lập nên nghiệp lớn. Và nhất là đời ông cố, ông nội của Nguyễn Nhạc được nhà họ Đinh ở Bằng Châu nhận bảo bọc, coi như người thân thuộc. Vua Thái Đức tỏ ý muốn phong tước cho Thầy, ông bèn tâu: "Dù Bệ hạ đã lên ngôi Hoàng Đế, nhưng vẫn là đạo con cháu của nhà họ Đinh, nếu Bệ hạ có lòng nghĩ đến thì xin cho tôi được tự phong".

 

Vua Thái Đức chiều ý thầy, chuẩn y cho. Ông lấy bút mực viết bài thơ dâng lên vua:

 

Bùng binh chi tướng,Uýnh cướng chi quan,Bộn bàn chi chức,Chảng chảng ngang thiên.(Nước Non Bình Định – Quách Tấn)

 

Rồi mỗi lần đến thăm vua Thái Đức ở thành Đồ Bàn, ông Chảng ngồi trên cái thang thay cho kiệu, dùng hai tàu lá đu đủ thật lớn thay cho lọng, lính hầu vác cuốc, xẻng, cào cỏ, đòn xóc thay cho cờ biển gươm giáo [3]. Con đường từ Bằng Châu đến thành Đồ Bàn chừng hơn một cây số và phải băng qua quốc lộ 1, dân địa phương cả người đi đường đứng xem đông nghẹt vì thấy cái ngang bướng lạ đời của ông Chảng.

 

3.1.2 Ông Xã Bình Thái lại nồi canh :

 

Muốn nói nồi canh, vì lỡ tay nêm muối quá mặn, người Bình Định có lối nói: "Ông xã Bình Thái lại nồi canh", đôi khi dùng tiếng tục "...đái nồi canh". Nhiều người quen gọi địa danh Bình Thái ra Bình Thới, nên câu trên được sửa lại cho hiệp vần "Ông xã Bình Thới tới nồi canh". Bình Thới là thôn nằm phía bờ Tây đầm Thị Nại, thuộc xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, dân trong làng hầu hết làm ruộng muối. Ông xã trưởng của một làng đời đời chuyên sản xuất muối biển mà lại gần nồi canh thì bảo sao nồi canh không quá mặn được!?

 

3.1.3 Hỗn quá nậu rổi :

 

Muốn ví ai ăn nói già hàm hỗn xược, người ta thường nói: "Hỗn quá nậu rẩu (rổi)." Thời trước, ít xe cộ và không có nước đá ướp lạnh cá, những người đàn bà chuyên nghề bán cá biển còn tươi, gọi chung là "nậu rổi", phải cố rút ngắn thời gian chuyên chở kẻo bị cá ươn, họ vừa gánh vừa chạy lúp xúp đến các chợ, mỗi ngày di chuyển vài chục cây số là thường. Nếu ai muốn mua cá mà trả giá từng cắc từng xu, làm kéo dài thời gian mua bán, thường bị "nậu rổi" mắng xối xả những câu tục tĩu, chọc quê trước đám đông cho xấu hổ, lần sau không dám trả giá chậm chạp nữa.

 

Lại nữa, cũng quanh chuyện nậu rổi, dân chúng vùng này bản chất cần cù ít nói, quanh năm hết việc đồng áng đến vườn tược hay các nghề phụ, không muốn tụ năm tụ ba đem việc vu vơ ra đàm tiếu. Họ rất ghét những ai có thói ngồi lê nói mách, đem chuyện riêng tư của người này nói cho người khác nghe. Với những hạng người đó, đôi khi họ không tiếc lời mắng nhiếc (nhưng hạn chế, chỉ những người bạo miệng mới dùng) bằng những câu nói rất tục cho đáng tội thóc mách: "Miệng nhóp nhép như mép l... nậu rổi".

Sưu tầm

 

Ý kiến của bạn

Góc ảnh đẹp
Xem tất cả